"Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt4,4)

Phân chia xứ sở

 1Đây là danh sách các chi tộc. Phần của Đan: ở cực bắc, về phía Khét-lôn, phía Cửa ải Kha-mát và Kha-xa Ê-nan, lãnh thổ của Đa-mát, ở phía bắc, dọc theo Kha-mát, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 2Phần của A-se: dọc theo biên giới của Đan, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 3Phần của Náp-ta-li: dọc theo biên giới của A-se, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 4Phần của Mơ-na-se: dọc theo biên giới của Náp-ta-li, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 5Phần của Ép-ra-im: dọc theo biên giới của Mơ-na-se, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 6Phần của Rưu-vên: dọc theo biên giới Ép-ra-im, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 7Phần của Giu-đa: dọc theo biên giới của Rưu-vên, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 8Dọc theo biên giới của Giu-đa, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây, các ngươi sẽ trích ra một phần rộng mười hai ngàn năm trăm thước và dài bằng phần của mỗi chi tộc, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. Thánh điện sẽ nằm ở giữa.

 9Các ngươi sẽ trích ra một phần để dâng kính ĐỨC CHÚA: dài mười hai ngàn năm trăm thước và rộng mười ngàn thước. 10Đây sẽ là phần trích dâng làm đất thánh dành cho các tư tế: phía bắc dài mười hai ngàn năm trăm thước; phía tây rộng năm ngàn thước; phía đông rộng năm ngàn thước; phía nam dài mười hai ngàn năm trăm thước. Thánh điện của ĐỨC CHÚA sẽ nằm ở giữa. 11Đó là phần dành cho các tư tế đã được thánh hiến, thuộc dòng dõi Xa-đốc, những người đảm trách việc phục vụ Ta; chúng đã không lầm lạc vào lúc con cái Ít-ra-en lầm lạc cũng như các thầy Lê-vi lầm lạc. 12Sẽ thuộc về chúng một phần lấy từ phần trích dâng rất thánh trong xứ, gần lãnh thổ các thầy Lê-vi. 13Còn thuộc về các thầy Lê-vi một phần tương ứng với lãnh thổ của các tư tế, dài mười hai ngàn năm trăm thước, rộng năm ngàn thước. Tất cả dài mười hai ngàn năm trăm thước, rộng mười ngàn thước. 

 14Không được đem đất ấy bán hay đổi chác, không được chuyển nhượng phần đất tuyệt hảo của xứ, vì đó là của thánh dâng kính ĐỨC CHÚA. 15Phần còn lại rộng hai ngàn năm trăm thước, dài mười hai ngàn năm trăm thước, đó là đất phàm tục, dùng để làm thành, làm nhà ở và làm đồng cỏ. Thành sẽ nằm ở giữa. 16Đây là kích thước của thành: phía bắc: hai ngàn hai trăm năm mươi thước; phía nam: hai ngàn hai trăm năm mươi thước; phía đông: hai ngàn hai trăm năm mươi thước; phía tây: hai ngàn hai trăm năm mươi thước. 17Đồng cỏ dành cho thành: phía bắc: một trăm hai mươi lăm thước; phía nam: một trăm hai mươi lăm thước; phía đông: một trăm hai mươi lăm thước; phía tây: một trăm hai mươi lăm thước. 18Phần còn lại có chiều dài chạy dọc theo phần trích dâng thánh: năm ngàn thước về phía đông và năm ngàn thước về phía tây; lợi tức của phần đất này sẽ dùng làm lương thực nuôi những người lao động trong thành. 19Những người lao động trong thành, thuộc mọi chi tộc Ít-ra-en, sẽ canh tác phần đất này. 

 20Toàn bộ phần đất ấy là mười hai ngàn năm trăm thước trên mười hai ngàn năm trăm thước: đó là phần đất vuông; các ngươi sẽ trích ra một phần làm phần trích dâng thánh và phần sở hữu của thành. 21Phần còn lại thuộc về ông hoàng thì ở hai bên phần trích dâng thánh và phần sở hữu của thành: từ cạnh phía đông của phần trích dâng –dài mười hai ngàn năm trăm thước– cho đến ranh giới phía đông; từ cạnh phía tây của phần trích dâng –dài mười hai ngàn năm trăm thước– cho đến ranh giới phía tây. Đó là phần của ông hoàng tương ứng với những phần khác. Phần trích dâng thánh và thánh điện của Đền Thờ sẽ nằm ở giữa phần đất ấy. 22Như thế, phần của ông hoàng sẽ nằm ở giữa lãnh thổ Giu-đa và lãnh thổ Ben-gia-min. Còn phần sở hữu của các thầy Lê-vi và phần sở hữu của thành thì nằm giữa hai phần của ông hoàng.

 23Đây là các chi tộc còn lại: phần của Ben-gia-min: từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 24Phần của Si-mê-ôn: dọc theo biên giới của Ben-gia-min, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 25Phần của Ít-xa-kha: dọc theo biên giới của Si-mê-ôn, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây.

 26Phần của Dơ-vu-lun: dọc theo biên giới của Ít-xa-kha, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 27Phần của Gát: dọc theo biên giới của Dơ-vu-lun, từ ranh giới phía đông sang ranh giới phía tây. 28Còn biên giới phía nam của Gát, về mạn nam: biên giới này sẽ chạy từ Ta-ma cho tới dòng nước Mơ-ri-va ở Ca-đê, dọc theo con sông, đến tận Biển Lớn. 29Đó là xứ các ngươi sẽ bắt thăm để chia làm phần gia nghiệp cho các chi tộc Ít-ra-en; đó sẽ là phần của chúng – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng.

Các cổng thành Giê-ru-sa-lem

 30Còn đây là các lối ra của thành. Cạnh phía bắc: hai ngàn hai trăm năm mươi thước. 31Các cổng thành sẽ mang tên các chi tộc Ít-ra-en. Ba cổng ở phía bắc: một cổng mang tên Rưu-vên; một cổng mang tên Giu-đa; một cổng mang tên Lê-vi. 32Phía đông, hai ngàn hai trăm năm mươi thước và ba cổng: một cổng mang tên Giu-se; một cổng mang tên Ben-gia-min; một cổng mang tên Đan. 33Phía nam, hai ngàn hai trăm năm mươi thước và ba cổng: một cổng mang tên Si-mê-ôn; một cổng mang tên Ít-xa-kha; một cổng mang tên Dơ-vu-lun. 34Phía tây, hai ngàn hai trăm năm mươi thước và ba cổng: một cổng mang tên Gát; một cổng mang tên A-se; một cổng mang tên Náp-ta-li. 35Chu vi là chín ngàn thước.

 Và từ nay trở đi, tên của thành sẽ là: “ĐỨC-CHÚA-ngự-ở-đó.”

Bản văn Kinh Thánh được dùng theo bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ

🌸 🌸 🌸

Chọn Sách